Sign up
Tạm biệt Vnwblogss
tathuyen | 05 May, 2009, 13:47 | Chung | (148 Reads)

xin tạm biệt Vnwblogs cùng các anh các chị bloger yêu quý. Ta thu Yên rất buồn khi phải chia tay với Vnwblogs vì rất khó khăn khi vào blogs, có thể do nhiều lý do nhưng  lý do lớn nhất là do trình độ của Thu Yên có hạn ,khó theo kịp các anh các chị về kỹ thuật nên Thu Yên chuyển sang Plus cho dễ thao tác. Cảm ơn và mong gặp lại mọi ngừi bên nhà mới Hoamuongbien bên Plus.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=152929

thơ tạ thu yên
tathuyen | 01 May, 2009, 02:27 | Chung | (137 Reads)
  

Tạ Thu Yên

THÁNG TƯ

Tháng tư nắng chưa thật hè

Phượng hồng chưa hé, tiếng ve chưa giòn

Tháng tư ngan ngát bằng lăng

Một màu son sắt nhân tình gửi trao

Tháng tư bất chợt mưa rào

Râm ran tiếng ếch bờ ao gọi tình

Tháng tư sen tở mở xanh

Thuyền ai một lá chòng chành hồn tôi

Tháng tư ơi, tháng tư ơi

Đong đầy sắc biếc, ngợp trời lộc xuân                                 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=152140

Ảnh chụp tại Sơn La
tathuyen | 28 Apr, 2009, 21:18 | Nhiếp Ảnh | (667 Reads)
Ảnh Sơn La
Bản mới Mai Quỳnh

Ảnh Sơn La
Nhà máy thủy điện Sơn La đang xây dựng.

Cầu Pá Uôn, cây cầu có độ cao lớn nhất Việt Nam đang được xây dựng tại Sơn la
Cây cầu có độ cao lớn nhất nước ta: Cầu Pá Uôn Sơn La.


Ruộng rất chật của đồng bào tái định cư.

Ảnh Sơn La
tác giả các bức ảnh trên chụp cùng lão Nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam Tạ Ngọc Bảo.Hi hi hi. Trình làng sau đợt đi Sơn La về.
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=151472

Thơ Thu Yên
tathuyen | 06 Apr, 2009, 21:48 | thơ | (118 Reads)
 

Hôm nay đi trại ST do tỉnh Sơn La mời, chưa viết được bài mới nên mình lôi bài tự ngày xưa ra để  lấy lại cảm xúc. Mấy ngày nữa đi bản về chắc sẽ viết được gì đó. Rất may ở đây có mạng waifai nên post được bài.

 Đêm Tây Bắc

Trời Tây Bắc đêm nay như cao hơn

Khi điệu Khắp vang lên gọi bạn

Điện thay trăng sáng ngời khắp bản

Lóng lánh hàng khuy và sóng sánh miệng cười

Vò rượu bưng ra

Men rượu cất thành lời

Vòng xoè mở

Bàn tay em mềm mại

Vụng dại bàn chân ta bước theo

Trời Tây Bắc đêm nay như xanh hơn

Khi men rượu, men tình nồng ấm

Sương se lạnh

Vòng xoè thêm rộng

Cả rừng khuya cũng thức cùng người

Ngực núi phập phồng chung một đêm vui.

                                                   16/04/2002

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=145961

Thơ Thu Yên
tathuyen | 26 Feb, 2009, 21:38 | thơ | (164 Reads)

 

TRÂU HÉO

Ngày xưa khi mẹ vẫn còn

Giàn trầu không tốt xanh um đầu hồi

Sáng sáng nhặt lá vàng rơi

Đem vào cho mẹ từng cơi trầu vàng

Bàn tay khéo léo nhẹ nhàng

Miếng trầu cánh phượng mơ màng tỉnh say

Trầu vàng toả nhẹ hương cay

Cau xanh tiện trũm trao tay làm đầu

Mẹ và cô bác mời nhau

Vừa vôi, vừa thuốc cốt trầu thắm môi

***

Bây gìơ lá trầu thôi rơi

Dây trầu xơ xác bởi Người đã đi

Thân trầu quặn lại xù xì

Lá trầu thắt lại chắc vì nhớ thương

Một ngày trở gió giăng sương

Dây trầu ngã xuống! Bức tường ngẩn ngơ.

***

Con về lòng dạ sững sờ

Chắc hồn trầu đã bơ vơ tìm Người.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=135466

Thơ Thu Yên
tathuyen | 13 Feb, 2009, 11:35 | thơ | (113 Reads)
 

        

THƯƠNG LẮM NHỮNG CÁNH ĐỒNG SAU LŨ

Thương lắm lắm những cánh đồng sau lũ

Xơ xác thân ngô, mắc cạn phận bèo

Ngân ngấn lệ bùn hoen bờ cỏ

Ngày đông sàn sạt gió may heo

Thương lắm lắm những cánh đồng sau lũ

Sạm mặt người qua những lo toan

những giống, nhữngcông, những vun trồng...mất cả

Sau một đêm còn lại bàng hoàng.

Thương lắm lắm những cánh đồng sau lũ

Lênh loang bùn non

Quánh xá cày trái vụ

gieo vội hạt rau: Lấy ngắn nuôi dài

Sau con lũ những gì còn laị

Là nỗi đau, là niềm tin khắc khoải:

Cây bật mầm trả lại màu xanh

Đất cựa mình, hối hả hồi sinh

Nơi con lũ đi qua

Thương lắm lắm những cánh đồng.

                                                                      
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=131494

Thơ Thu Yên
tathuyen | 23 Jan, 2009, 01:56 | thơ | (138 Reads)
 

XUÂN SỚM

Thinh không kìa sếu bay trở lại

Giại nứa đầu hiên nắng nhạt hoe

Xuân sớm. Khẽ khàng hơi gió lạnh

Lảnh ấm bờ tre giọng chích choè.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=126029

Truỵện ngắn
tathuyen | 08 Jan, 2009, 03:45 | van | (129 Reads)
 

                                      KHI MÙA XUÂN ĐẾN

                                                                         Tạ Thu Yên

Chiều 29, trong xóm xa xa đã nghe vẳng tiếng lợn kêu. Không khí Tết lan toả khắp nơi . Xếp nốt tàu lá dong cuối cùng lên chiếc mẹt, Dịu chống gối đứng dậy, vẩy đôi tay xoăn xeo vì ngâm nước. Gác mẹt lá lên nóc chiếc bể con, Dịu ngong ngóng trông ra cổng. Sắp tối đến nơi rồi mà con bé vẫn chưa về? Lần đầu tiên trong đời làm mẹ chị chờ con về ăn Tết. Năm nay con gái chị học chuyên toán dưới Hà Nội. Mười lăm năm hai mẹ con côi cút bên nhau, chị những không muốn cho con đi      nhưng nghĩ đi nghĩ lại, có giữ rồi vài ba năm nữa nó cũng vẫn phải xa chị cơ mà. Thế là con bé đi đã được gần một năm rồi!

Vào ra quanh quẩn càng thêm rối ruột, Dịu xách xô đi tưới rau. Lòng chị dịu lại trong màu xanh của cây lá. Nắng cuối đông đọng long lanh trong các giọt nước, cảm thấy chúng như những giọt nước mắt, chị khuờ tay cho chúng lăn xuống đất. Mảnh vườn tuy nhỏ nhưng Dịu trồng xen nhiều loại rau, nhờ chăm tưới tắm nên vườn rau nhà chị gần như xanh nhất xóm.

•-         Mẹ...e!

Dịu quăng vội chiếc gáo dừa vào xô nước, tiếng con cái Hương nó gọi chị. Dịu cuống lên khi nhìn thấy con gái ngoài đường. Mười lăm tuổi mà nó phổng phao như con gái mười bảy . Khuôn mặt trái xoan trắng hồng dịu dàng ẩn dưới vành mũ nan Hêro. Chiếc túi khoác đeo nơi vai, tay nó còn xách theo một túi cước đầy cam đỏ ối.

•-         Hương, sao về muộn thế con?

•-         Mẹ! Mẹ có biết không, may ơi là may con mới về được với mẹ đấy. Xuýt nữa...

•-         Sao, con bị làm sao?

•-         Kìa mẹ, mẹ chỉ hay hốt, con có làm sao đâu, chả là xe ngày tết đông ngàn ngạt lên ấy. May có chú bộ đội chen vé giúp không thì con chỉ còn nước khóc thôi!

Nghe con gái nhí nhảnh trả lời, chị thở phào nhẹ nhõm. Bên ngoài cuộc sống bây giờ nhiều sự rối ren, cho con gái đi đâu các bậc phụ huynh cũng lo ngay ngáy.

-Thôi, cất đồ đi rồi tắm gội. Nước mẹ đun sẵn trên bếp ấy.

- Ôi mẹ cứ làm như con vẫn còn bé bỏng lắm ấy! (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=121967

Thơ Thu Yên
tathuyen | 24 Dec, 2008, 05:42 | thơ | (76 Reads)
 

TAN V ÀO N ỖI NHỚ

Những ngày anh đi biển

Trời thật xanh đầy nắng và gió

Trái tim em nhức căng vì nỗi nhớ

Và vòng tay run rẩy mong chờ!

Khi anh trở về

Có lẽ trái tim em không còn nguyên lành nữa

Nỗi nhớ mong và giận hờn bốc lửa

Nung trái tim em chảy tan thành thơ

Những vần thơ mang màu nắng, màu cát

Sóng sánh theo từng bước chân anh.

Trước biển anh có nhớ em không?

Mênh mông xanh biển sao rộng quá

Khiến trái tim anh bỗng thành quá nhỏ

Khi em muốn náu vào trốn cơn bão lìa cành!

* * *

Trời thật xanh, và biển chắc cũng xanh


Em đoán vậy bởi giọng anh ấm lạ

Nỗi giận hờn qua đi lòng em thanh thản quá

Khi chợt nhận thấy mình luôn ở giữa tim nhau

Bão đi qua...

Cây vẫn biếc nguyên màu!

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=118305

Trang bạn bè viết
tathuyen | 13 Dec, 2008, 06:51 | van | (124 Reads)
TẠ vĂN SỸ viết bài này sau khi đọc tập "Đã Thu" của THu Yên, bài này vừa đăng trên báo Văn nghệ trẻ số 50, pots lên để mọi người chia xẻ vì cảm nhận thơ của mỗi người một khác. 
 

TẠ VĂN SỸ

                                        TẠ THU YÊN - YÊN Ả MÙA THU

                                  (Đọc tập thơ "Đã thu", nxb Hội Nhà văn 2008)

          Không phải người viết cố ý chơi chữ khi đặt tên cho bài viết này, mà vì là một trời thu bàng bạc trải khắp đều từ đầu đến cuối tập thơ "Đã thu" của Tạ Thu Yên!

          Mùa thu xưa nay vốn dĩ là mùa dễ gợi nhiều thi tứ, đặc biệt là với các tâm hồn văn nhân thi sĩ. Đã có bao áng văn thơ trác việt về mùa thu! Tạ Thu Yên cũng có những cảm nhận thu theo cách riêng mình. Dĩ nhiên sẽ là khập khiễng nếu đi so với các bậc thi tài khác thì thơ Tạ Thu Yên không biết đến bao nhiêu mùa thu nữa mới bằng bác bằng cô, bằng anh bằng chị, nhưng ở tập thơ này người đọc cũng bắt gặp những khoảng thu riêng của một tâm hồn nữ sĩ. (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=115732

Thơ Thu Yên
tathuyen | 09 Dec, 2008, 07:55 | thơ | (75 Reads)
     

LÀNG ĐỒI

Trưa trong vườn mẹ im lìm

Gió đưa tiếng võng đi tìm tiếng chim

Ngoài bìa vườn nắng, lim dim

Ngàn con mắt dứa ngó nhìn trời xanh

Lập loè thắp lửa đầu cành

Chưa ăn đã thấy ngọt thanh vị rồi

Nhà mẹ tựa lưng vào đồi

Làng trung du đất với người gần nhau

Thương mẹ cha tự buổi đầu

Tay sần chai dọn bãi lau đại ngàn

Cha trồng bưởi, mẹ trồng cam

Cho làng đồi mọc thành làng thành quê

Ngày gió núi lộng bốn bề

Đêm đêm  nghe tiếng sóng về dưới xuôi

Tình người ở khắp mọi nơi

Tụ về đây tạo làng đồi thân thương

Đất nghèo một nắng hai sương

Trái cây chín cũng mang hương đất đồi

Dẫu rằng đi khắp mọi nơi

Trong lòng riêng vẫn khoảng trời trung du
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=114684

Thơ Lê Vĩnh Tài (tiếp và hết)
tathuyen | 07 Dec, 2008, 06:34 | Tang bạn bè viết | (125 Reads)
 

thơ 41

có một bài thơ được người ta dặn phải canh chừng cảm xúc, vì cảm xúc hay đến rồi đi bất chợt. Mỗi đêm bài thơ thường mất ngủ vì cứ sợ cảm xúc bay đi mất

một đêm nọ bài thơ mệt quá nằm thiếp đi thì có một cái gì bò nhồn nhột ở tay, bài thơ giật mình tưởng cảm xúc đến, vội đánh thức vợ dậy và chạy lên sân thượng, bài thơ chỉ thấy ánh trăng nằm rã rượi trên những bông hoa Quỳnh đã bắt đầu nhợt nhạt, tái xanh như người bệnh và héo rũ. Bài thơ không nhìn thấy cảm xúc đâu cả, tiếc nuối đi ngủ tiếp

một đêm nọ bài thơ nghe tiếng quẫy trong đêm như tiếng quẫy của chú cá vàng trong bể nước, bài thơ giật mình tưởng cảm xúc đến, vội đánh thức vợ dậy và chạy ra phòng khách. Bài thơ chỉ thấy những cánh bèo trong bể cá nằm chết lềnh phềnh trên mặt nước, còn chú cá vàng đầu đã phình to như đầu sư tử. Vầng trăng không chui qua ô cửa sổ được (vì đã đóng kín sợ mấy thằng ăn trộm leo vô), chỉ có ánh trăng rơi vào trong bể cá, cũng rũ rượi như đêm hôm trước. Những giọt nước tung toé trong đêm ướt sũng hồi ức, lăn tròn như giọt nước mắt có lần bài thơ đã gặp trong đêm mất ngủ của mình. Bài thơ cũng không nhìn thấy cảm xúc đâu cả, ngơ ngẩn một hồi rồi đi ngủ tiếp

nhiều đêm đánh thức vợ như thế, bài thơ vẫn chưa nhìn thấy cảm xúc

sau đó bài thơ bỏ, không chờ cảm xúc nữa và trở thành người thiết kế trang trí nội thất nổi tiếng, sắp đặt chậu hoa trên sân thượng hay bể cá trong phòng khách rất đẹp. Chỉ có điều hơi mệt là vợ bài thơ (trước là thợ cắt móng chân) bây giờ đã thành nhà thơ, nên đêm nào cũng đánh thức bài thơ dậy khi nàng bắt gặp cảm xúc, làm bài thơ mất ngủ, người xuống sắc thấy rõ

mất ngủ nhiều nên bài thơ mắc bệnh ho, giọng hơi khàn. Ai hỏi vợ bài thơ làm gì, bài thơ nói "làm thơ" mà người ta cứ nghe ra là "làm thuê", nên ai cũng thương

thơ 42

1.

có một bài thơ mướn một căn gác tồi tàn để trọ. Nhưng phải đủ rộng vì bài thơ có rất nhiều sách. Đêm nào bài thơ cũng tiếp khách, vì người yêu của bài thơ hay ghé đến chơi (bài thơ cũng muốn cưới vợ, nhưng vì chưa có tiền nên cứ yêu yêu miết)

người yêu của bài thơ và bài thơ cũng nói chuyện rất đắm say, chỉ than phiền căn gác có nhiều muỗi. Bài thơ hay làm thơ tặng người yêu sau mỗi đêm như vậy, ví như anh thức suốt đêm đuổi muỗi cho em anh thức suốt đêm đuổi muỗi cho em (mà quả bài thơ thức suốt đêm đuổi muỗi thật, nhiều bữa sáng dậy bài thơ mệt ngắc ngư)

mấy tháng sau, mẹ của bài thơ lên căn gác thăm bài thơ. Mẹ đi mua cho bài thơ một cái mùng bằng vải xô trắng. Bài thơ nhìn dáng mẹ bung cái mùng ra như một đoá sen, mẹ đang trôi bềnh bồng giữa đó như một bà Tiên. Căn gác trọ của bài thơ miên man như cổ tích được một đêm

sau đó bài thơ vẫn làm thơ anh thức suốt đêm đuổi muỗi cho em anh thức suốt đêm đuổi muỗi cho em, vì bài thơ (làm thơ và kỹ sư đụng - đụng gì làm đó) và người yêu (làm công nhân) sau khi trả tiền ăn xong làm gì còn đồng nào mà mua mấy cái khung sắt về treo mùng

2.

có lần bài thơ và người yêu đi chơi. Bỗng nhiên trời đổ mưa. Người yêu bài thơ bung lên một cây dù, màu trắng và vẫn đi thẳng. Nàng không chịu nghiêng qua bên bài thơ, còn bài thơ vì là bài thơ nên cũng không thể đi nghiêng qua bên nàng. Đi một tí như vậy thì bài thơ ướt hết, giấy má lem nhem nhìn không ra chữ (chứ không phải hậu hiện đại). Da thịt bài thơ âm ẩm hâm hấp làm người yêu của bài thơ muốn bốc khói (tức là nàng muốn cắn vào bài thơ một cái, không phải do bụng đói). Người yêu bài thơ sợ bài thơ biết được ý nghĩ của mình, giả vờ kêu lên: a, mưa ta ơi.... và xoay xoay cán dù. Có lẽ bài thơ chưa hiểu ô dù quan trọng với người yêu của bài thơ như thế nào

khi về bài thơ có làm bài thơ "dưới cơn mưa quê hương", nhưng nàng không đọc vì không tả cái dù. Hình như là điềm báo, vì người yêu bài thơ sau đó thế chấp sổ đỏ đóng tiền đi xuất khẩu lao động. Khi đi, nàng có tới chào bài thơ và nói: em với anh giờ hổng còn chói buộc...

nghe nói bài thơ vẫn giữ bức hình chụp 2 người đi chơi dưới mưa làm kỷ niệm. Lâu lâu thấy cái gì màu trắng (không phải cái mùng), bài thơ nhớ người yêu và khóc       ---------------------------

một dị bản của thơ 42

có một bài thơ vì nghèo quá nên không lấy được vợ. Bài thơ bèn viết một bài thơ lên giấy, tả một người con gái, quả nhiên cô gái hiện ra và về sống với bài thơ. Hàng ngày cô gái phụ dọn dẹp nhà cửa và cùng bài thơ nói nhiều chuyện rất tâm đắc. Bài thơ rất yêu vợ và cám ơn trời đất đãt đã linh ứng lời cầu nguyện của mình

chỉ có điều vì được sinh ra từ tờ giấy nên cô gái không phải như bao cô gái xương thịt ở trên đời này, ví dụ như khi đi chợ, người ta không mua bán với cô gái sinh ra bằng giấy, khi ốm đau, bệnh viện không khám bệnh cho cô gái bằng giấy... Mặc dù bài thơ và cô gái (là vợ bài thơ) nói hết lời nhưng người ta vẫn không nghe. Không làm sao người ta thừa nhận cô gái

nghe nói cuối cùng cô gái đã bỏ bài thơ và dọn đi một xứ sở khác, ở đó mọi người (bằng giấy hay bằng đồng, sắt, chì... gì cũng được thừa nhận, và bình đẳng vào đời đi chợ hay khám bệnh giống như nhau...)

vì vậy cuối cùng bài thơ vẫn chưa có vợ

thơ 43

có một bài thơ có gương mặt hơi ám khói vì hút nhiều thuốc lá. Một lần đi chơi bài thơ thấy một quán bán cháo gà ăn khuya, trước có treo một tấm biển: hãy vứt hết tất cả hy vọng khi vào đây. Bài thơ ngạc nhiên và cũng hơi rờn rợn, không dám bước vào. Bài thơ muốn quay về nhưng bạn bè đốc thúc, vì là bài thơ nên nó không thể không phiêu lưu (và cũng hơi đói bụng), thế là bài thơ rón rén bước vào

bước vào, bài thơ thấy tấm bảng: không bao giờ sống sót, thì ra đó là nơi người ta đưa những con gà đến để giết thịt

bước tiếp, bài thơ thấy tấm bảng: không phân biệt đạo đức tốt xấu, thì ra đó là nơi người ta cân ký và tính tiền thịt gà (mà cũng đúng thôi, đạo đức tốt xấu gì nếu đem cân ký lô thì cũng bình đẳng)

bước tiếp, bài thơ thấy tấm bảng: rỗng tuyếch và đồng nghĩa, thì ra đó là nơi người ta vận chuyển những miếng thịt gà đã chặt, sơ chế xong

rồi lại tấm biển: không có cái chết đột ngột, đó là nơi mà người ta nấu cháo gà

lúc này bài thơ muốn lên cơn hấp hối, vì đói bụng quá. Người ta vội cho bài thơ ăn cháo gà. Muốn gọi chanh ớt thì kêu chua chát, cay đắng hay vân vân gì đó... Vừa ăn bài thơ vừa háy mắt với hai người ngồi bên, chắc là Việt Kiều hay Nghệ Sĩ, vì thấy đầu cạo bóng loáng như hai cái sọ. Bài thơ muốn làm sang nên nhìn với qua và nói chuyện với họ về thiện ác hay thơ ca gì cũng được nhưng họ không trả lời vì đây chỉ là quán cháo gà. Sau đó mọi người kêu trà đá uống, bài thơ thấy những viên đá cứ đè lên nhau giống như những hòn đá chồng chất hai bên đường vào địa ngục, nhưng cũng chả ai quan tâm đến ý nghĩ kỳ lạ của bài thơ. Họ nói tốt xấu đạo đức sang hèn người thú tiểu nhân bậc thầy cuối cùng cũng chỉ là những ý niệm mà thôi. Mà ý niệm nhiều khi lại vừa là cái này vừa là cái khác, vì bài thơ quan trọng chữ quá nên cứ lẩn thẩn như vậy, nãy giờ có ai đọc tấm biển nào đâu. Cái cần nhất là phân biệt ánh sáng và bóng tối thì bài thơ lại không để ý, ví như trời đã khuya quá rồi

nên mọi người lục tục ra về. Bài thơ cứ lẩm nhẩm ý niệm với khái niệm, chẳng qua là chữ, chẳng qua là chữ... Một người tưởng bài thơ không đọc được tấm biển, bèn nhắc: quán cháo gà (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=114218

Thơ Lê Vĩnh Tài (tiếp)
tathuyen | 06 Dec, 2008, 07:01 | Tang bạn bè viết | (80 Reads)
 

thơ 31

có một bài thơ hay nhớ thương về ngôi làng quê hương của nó. Bài thơ nghĩ rằng hồn Việt nằm trong những ngôi làng bình yên rơm rạ đó. Bài thơ day dứt về đường làng ngõ nhỏ, nơi cái giếng thơi "ba gian đầy cả ba gian nắng chiều..." vẫn còn rêu phong gạch phủ. Nơi đình làng còn là chiếc chiếu cho bọn trẻ con quỳ vòng tay cung kính mừng thọ những người già

khi hàng xóm của bài thơ mở rộng nhà để tựa núi nhìn sông hổ ngồi rồng cuộn, tự nhiên bài thơ chảy nước mắt

bài thơ biết rằng làng quê của mình, những con ngõ lát gạch Bát Tràng gập ghềnh sẽ còn gập ghềnh hơn dù vẫn reo vui âm vang tiếng pô xe máy Trung Quốc và tiếng hát karaoke của trai làng đang yêu. Cổng làng có ao rau muống quẫy nước mỗi chiều đi làm đồng về của bài thơ sẽ san lấp đúng theo quy hoạch và tiến độ. Những ngôi nhà hình vòm hình chóp hình ống hình ốm nhách hình cao nghều... kiểu Ba Tư, kiểu Tàu, kiểu La Mã, kiểu lùn lùn nhưng vẫn vui vui... sẽ đan xen tiếp tiếp với nhau. Ngôi làng sẽ mang tầm nhìn đến 20 năm sau và sau sau nữa. Lễ hội được mùa của làng sẽ rước kiệu đi giữa hai hàng bê tông chạm hoa sen của Hy Lạp làm sân khấu, có chiếu đèn lade của Pháp...

bài thơ tìm mãi chả còn một người nông dân nào (tức là người ọ trâu và dắt trâu ra đồng từ sớm, trưa về ngã mình lên chõng tre uống bát nước vối và không bao giờ nói chuyện lừa nhau hay cho nhau xuống bùn). Bây giờ bài thơ chỉ toàn thấy những người làm nông nghiệp (vì đất ruộng sình vẫn còn đó và đô thị hoá thì đang còn bỏ ngỏ). Những người này rải nhớt thải xuống ao cho rau có màu xanh, xịt thuốc tăng trưởng cho bắp cải mau lên chợ phố, bôi phẩm màu lên heo chết vì bị mắc dịch... chứ không "tát ánh trăng vàng" làm gì vì không ra tiền

và cũng do không có tiền nên trẻ con bây giờ hay cãi lại bố mẹ vì không xin được tiền đóng học phí hay chơi game. Bài thơ buồn buồn viết một bài thơ về việc "tôi sinh ra ở nông thôn, mẹ tôi là một nông dân...", nhưng người ta giải thích cho bài thơ đây là vấn đề vĩ mô, về sự đan xen vật thể và phi vật thể, sự chồng lấn giữa các cấu trúc gì gì đó trong quá trình phát triển... mà bài thơ không hiểu nên không làm thơ được

đêm bài thơ nằm ngủ thấy linh hồn của mình bay đi đâu mất, giống như ngôi làng tuổi nhỏ của bài thơ đã bỏ đi đâu chơi. Bài thơ muốn làm thơ về vần ơi này nhưng lại thấy chơi vơi, thế là lại thôi (vần ôi). Nhưng viết về vần ôi thì bài thơ lại sợ mất gói xôi, vì thực ra người ta chỉ coi bài thơ như thằng Bờm mà thôi...

bây giờ bài thơ không nói chuyện vần vèo nữa

thơ 32

có một bài thơ làm thơ cũng khá nhiều, nhiều cái viết bị lặp lại. Như bây giờ bài thơ muốn viết một bài thơ về người nông dân (không phải người làm nông nghiệp), nhưng xem ra người ta viết nát tan rồi, ví như khi Quang Trung cưỡi voi thì người xông lên phía trước, khi Quang Trung lên ngôi thì người trở về làng cày tiếp khoảnh ruộng xưa... Chính ở đám đông vô danh không ghi vào sử sách ấy, người ta tha hồ làm sử, tha hồ cày nát tưởng tượng của mình. Bây giờ làm thơ thì bài thơ phải lật mặt nạ của những hiệp sĩ, mà bài thơ không bao giờ làm nổi. Vì thế, bài thơ chỉ đi về làng chơi, kiếm chén rượu gạo xả stress thôi chứ không dám thơ phú gì...

bài thơ gặp uống rượu với 8 người (vậy cũng vui, chứ ở thành phố bài thơ chỉ uống rượu với 1 người vì ai cũng uống rượu để bàn chuyện riêng, hay bàn chuyện sau lưng người nào đó)

người nông dân 1: cống hiến nhiều nhất

người nông dân 2: hy sinh lớn nhất

người nông dân 3: hưởng thụ ít nhất

người nông dân 4: được giúp đỡ ít nhất

người nông dân 5: đè nén thảm nhất

người nông dân 6: bị tước đoạt nặng nề nhất

người nông dân 7: cam chịu lâu nhất

người nông dân 8, (đến đây bài thơ mệt quá, xin thôi nghe nhưng không được): là người tha thứ cao cả nhất

nghe xong bài thơ càng stress thêm. Vì thế sau đó bài thơ cũng ít về làng chơi, mỗi lần muốn xả stress bài thơ đi mát xa đâu đó ở gần nhà, xong xoa tí dầu Con Ó xanh rồi về với vợ

thơ 33

có một bài thơ phải tăng ca kiếm thêm, đi làm về khuya, ngang qua một nghĩa địa. Trong bóng tối, những ngôi mộ xám xám mờ mờ... Bài thơ thấy một cô gái mặc áo trắng, hiện lên sau một ngôi mộ, ngoắc bài thơ: anh ơi đến mả em. Nhìn quanh, bài thơ thấy một cô gái mặc áo trắng khác, hiện sau một ngôi mộ khác, cũng ngoắc: anh ơi đến mả em. Bài thơ rùng mình, tưởng mình nhìn lầm thì thấy các cô gái còn cười với bài thơ nữa. Bài thơ biết mình không phải nhà ngoại cảm (vì bài thơ có tu luyện gì đâu, thỉnh thoảng còn nói bậy) làm sao nhìn được cõi âm nhưng các cô gái cứ thay nhau xuất hiện và mời, ngoắc bài thơ làm bài thơ cũng sợ

một bức tường đổ, dăm bụi cỏ hoang...

vì nhà bài thơ ở gần khu giải toả nên mấy chuyện tường đổ, cỏ hoang là chuyện ruồi. Bài thơ bớt sợ và bước lại gần một cô gái. Hoá ra cô còn rất trẻ, khoảng 21, 22 tuổi gì đó, cười khoe hàm răng rất đẹp và mặc chiếc áo thun 2 dây màu trắng. Cô gái nắm tay bài thơ lôi tuột ra sau một tấm bia, bóc gói đậu phộng và rót bia tràn ra một chiếc ly nhựa có quai. Cô gái đập một chiếc khăn lau mặt cho bài thơ. Bài thơ vòng ra trước tấm bia, bật quẹt nhìn: Mềm Nhuyễn Thị Hương Hoa, hưởng dương 21 tuổi. Lúc này bài thơ mới hiểu và kinh hoàng vùng thoát khỏi vòng tay cô gái. Cô gái kêu toáng lên, bài thơ càng chạy càng nghe cô gái kêu, anh chưa trả tiền cho em anh chưa trả tiền cho em... Bài thơ hoàn hồn, biết không phải ma nên dừng lại trả tiền bia, đậu phộng da cá, khăn lạnh đầy đủ

sáng dậy bài thơ thấy bao nhiêu tiền còn lại trong bóp của mình hoá vàng hết cả (không phải bị móc bóp). Từ đó bài thơ không bao giờ nhắc đến chuyện tiền, vì tiền của bài thơ cũng giống như tiền âm phủ mà thôi 


thơ 34

có một bài thơ thường ấm ức các bạn của nó cứ nhẩn nha cầm chừng, nhìn sau trông trước, lầm thầm trước không có ai sau không có ai quanh quất chỉ mình ta... lúc nào cũng lầm thầm về sự cô độc mở cửa ra thấy núi (làm như bây giờ người ta không còn mở cửa ra để đóng tiền điện, coi người khác cãi lộn, đi chợ hay dắt con đi học nữa vậy)

nhiều khi bài thơ tức quá, nói: ôi chao chúng ta băng giá hết rồi sao thì các bạn bài thơ trả lời: chúng ta đang ở phố Sinh Từ chứ không phải phố Sinh Tử, nếu không hiền từ thì chúng ta sẽ gặp thứ dữ mất thôi... Bài thơ nghe vậy buồn đến mức bỏ nhà lang thang đi tìm phố Sinh Tử (không phải phố Sinh Từ, là phố bài thơ đang ở) như lời các bạn bài thơ nói, hy vọng sẽ gặp các bài thơ khác vui hơn

bài thơ gặp phố Nịt Vú, phố Lẩu Thái, phố Cá Khô, phố Hàng Đào, phố Hàng Mã... nhưng không ai biết phố Sinh Tử. Một bà ở phố Nịt Vú còn nói bài thơ là ba xạo khi nói chuyện sinh tử với thơ. Bà cười hơ hơ

phố cuối cùng còn sót lại bài thơ tìm đến là phố Bơ Vơ...

thơ 35

có một bài thơ viết được thơ số 35, nói chuyện trên trời dưới biển, nhiều lúc "lời ngoài lời", chiết tự mấy chữ mà thành thơ, bài thơ thích lắm. Nhưng khi đem đi in sơ ý bị rơi đâu mất. Bài thơ buồn, đi tìm mong mỏi nhặt lại được bài thơ số 35, nhưng chỉ thấy những bụi gai cọng cỏ. Bài thơ đành viết một bài thơ khác (không phải thơ 35), hơi hơi buồn:

------------------------------------

tràn lan những lá cờ màu trắng

chỉ câu thơ tìm mọi cách

trồi lên

-------

khi chiếc búa đóng đinh

bức vách lên tiếng nói

má ơi con đau quá

và mẹ dịu dàng

lau lên bức vách

con ơi,

không phải lúc nào người ta cũng biết

hậu quả việc mình đã làm (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=114033

Trang bạn bè viết
tathuyen | 05 Dec, 2008, 13:00 | Tang bạn bè viết | (65 Reads)
Xin post tiếp thơ Lê Vĩnh Tài.Từ Thơ 18
   

thơ 18

có một bài thơ thấy tivi ngày nào cũng nói giá dầu lên cao bèn nghĩ đến việc làm giàu. Nhưng mỏ dầu thì dĩ nhiên không đến phiên hắn (cũng không đến phiên ba hắn). Nhưng hắn vẫn ám ảnh việc khai thác mỏ, vì hắn biết thời nào cũng vậy, thằng nào thì thằng, chỉ có đào mỏ ở dưới đất lên mà bán thì mới mau giàu. Hắn thấy ở quê hắn người ta chỉ khai thác lén, tức là ít thôi, sàng tí quặng (mà theo hắn chỉ là đất chứ không có gì hơn) vậy mà lai rai mỗi tháng cũng chia nhau mỗi người một mớ vàng. Vì là bài thơ nên hắn nghĩ đến đến việc khai thác chữ, quặng chữ chắc bán cũng ối tiền (vì quặng nào không là quặng)

hắn khai thác quặng chữ một hồi (rất hay, ví như chữ tồn tại vì chữ là chữ, hay chữ  tồn tại vì người ta coi nó là chữ, hay chữ tồn tại không vì cái gì cả...), sau đó hắn mang đi bán, người ta bảo: ô, thế ông chép trong từ điển ra ấy à? Hắn không chấp với mấy loại người đó, vì theo hắn đó chỉ là những quái vật nửa người nửa bò tót

hắn tìm một quặng chữ khác, khai thác quặng chữ một hồi nữa (lần này hắn rây sàng rất kỹ, vì là quặng chữ nên cũng không có bao nhiêu đất, ví như con mèo thích được là chính nó tức là làm con mèo, con cọp là con cọp, khi con cọp tự cắn chính mình tức là chỗ đó của nó có nhiều bọ chét...) sau đó hắn cũng mang đi bán, người ta bảo ô, thế ông chép mấy cái thực đơn trong quán nhậu ra để làm gì? (Vì ở chỗ hắn bây giờ người ta hay nhậu thịt thú rừng). Hắn vẫn không chấp với mấy loại người đó, vì theo hắn chỉ là thứ nửa người nửa ngợm nửa đười ươi (à, theo hắn thì đười ươi rất thích làm đười ươi)

trong khi đó vợ hắn đi sưu tầm (thỉnh thoảng quên ghi chú tên tác giả), về lý lịch chiếc đồng hồ cát từ thế kỷ thứ XVIII, bí quyết pha chế của hãng cà phê Nam Nguyên, cách đi tìm số nhà ở Sài gòn vào những năm đầu thế kỷ XXI, các phương pháp "làm màu" để trở thành một nghệ sĩ trình diễn... Nói chung là đủ các kiểu kiếm tiền mà không cần phải khai thác mỏ (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=113855

Truyện ngắn Đỗ Hàn
tathuyen | 05 Dec, 2008, 08:31 | Tang bạn bè viết | (87 Reads)

Đỗ Hàn là người viết văn trẻ của Vĩnh Phúc. Các truyện ngắn của anh mang hơi thở của mạch văn cổ, hơi lieu trai nhưng tôi vẫn thấy thích mỗi khi đọc. Xin post một tác phẩm mới của Đỗ Hàn để mọi người cùng cảm nhận.


 

TRÂU VÀNG

Truyện ngắn của Đỗ - Hàn

Câu chuyện có lẽ phải bắt đầu từ chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ. Khi lên ngôi, thấy Hoa Lư chật chội, vua tìm đất dời đô.

Năm ấy, vua đi thuyền từ thành Hoa Lư sang đất Đại La, gặp rồng vàng bay. Thấy đất ấy, phong thủy rạng ngời, mới xuống chiếu rằng: "... Thành Đại La ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam, Bắc, Tây, Đông; lại tiến hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng, dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa...".

Bèn định đô gọi tên là Thăng Long.

Vua đắp thành, xây cung điện; bang giao với nhà Tống, gắn ước với Chiêm Thành, Chân Lạp mà yên ổn bờ cõi. Vua vốn phát tích từ cửa Phật. Nên người chuộng việc làm chùa, tô tượng. Năm ấy, xây xong thành, vua chọn nơi thắng địa, dựng chùa Chân Giáo. Chùa đẹp và to nhất nước.

Trải 18 năm, vua được mệnh trời, thuận lòng người. Được đời khen là có lượng đế vương.

Sang đời Thái Tông nối nghiệp, 27 năm trên ngai vàng làm sáng nghiệp cha. Năm nào vua con cũng ngự ra lễ tại chùa Chân Giáo mỗi khi có việc trọng hoặc trong lòng bất an. Vua lập quan chế, định các lộ giới, thúc đẩy việc học, chăm lo việc binh. Việc nào cũng giỏi ...

Thời sau dân gian có câu ca:

 "Đời vua Thái Tổ Thái Tông

Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng muốn ăn ..."

Thực là thái bình vậy!

Nhưng đến đời Nhân Tông hoàng đế thì mới có những chuyện lạ kỳ.

Ông Vua được tiếng là người nhân hiếu, được chính sử ghi là "sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn thì sợ, nước nhỏ thì mến, thần giúp đỡ, người ứng theo ..."

Vua là con Nguyên Phi Lan. Nhưng được Hoàng hậu Thượng Dương chăm bẵm từ nhỏ. Lên ngôi mới 7 tuổi, có Lý Đạo Thành giúp đỡ, có Thượng Dương Hoàng Hậu buông rèm cùng nghe chính sự. Lấy thế làm mừng. (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=113788

1 2  Sau»